Cơ sở pháp lý nào để thu hồi tài sản nhà nước đã bán?

Từ vận hành thanh, kiểm tra 1 số dự án hạ tầng và BDS vừa qua ở một vài địa phương, cơ quan tính năng của Đảng, Nhà nước đã phát hiện và kết luận về một vài sai phạm.

Theo đây, hoặc do vi phạm về thiếu căn cứ pháp lý, trái thẩm quyền, không đúng quy trình, thủ tục, hoặc do có tham nhũng, tiêu cực mà nhiều cán bộ lãnh đạo, là người tham dự chọn lọc dự án đã bị xử lý ở một vài mức độ khác nhau. Câu hỏi đặt ra qua một vài vụ việc như phân phối đất của Công ty TNHH 1 thành viên Đầu tư và Xây dựng Tân Thuận (TPHCM), phân phối sân vận động Chi Lăng (Đà Nẵng) và phân phối cổ phần cảng Quy Nhơn (Bình Định) cho tư nhân là: sau khi kết luận có sai phạm thì Nhà nước có căn cứ pháp lý để thu hồi một vài tài sản đã phân phối hay không?

Sân vận động Chi Lăng, Đà Nẵng. Ảnh: T.L

Xác định thế nào là sai phạm?

Ngôn từ chính trị, xã hội và báo chí thường sử dụng chung khái niệm “sai phạm” để nói về một vài hành vi sai trái. Đó có thể là sai trái về chính trị, ví dụ Đảng viên không tuân thủ quy định hay đề nghị của tổ chức Đảng, sai trái về đạo đức hay sai trái về pháp luật. Bài này chỉ đề cập đến tình huống thứ ba, được gọi 1 một vàih chính thống là hành vi “vi phạm pháp luật”. Theo đây, trước hết phải có 1 điều luật nào đây quy định về nghĩa vụ mà 1 chủ thể nhất định phải tuân thủ nhưng đã không tuân thủ thì được coi là “vi phạm”. Trong 1 vụ án thường có nhiều loại vi phạm khác nhau, có vi phạm thuộc về tổ chức và có vi phạm thuộc về cá nhân. Tựu trung, để xử lý, tức tìm ra chế tài, cần phải phân loại vi phạm thành ba dạng khác nhau, bao gồm dân sự, hành chính và hình sự.

Chẳng hạn, trong sự vụ Công ty TNHH 1 thành viên Đầu tư và thi công Tân Thuận chuyển nhượng đất cho Công ty cổ phần Quốc Cường Gia Lai ở xã Phước Kiển, huyện Nhà Bè, TPHCM, Ủy ban Kiểm tra Thành ủy TPHCM đã kết luận về sai phạm chính trị (vi phạm Quyết định 1087-QĐ/TU của Ban Thường vụ Thành ủy) và sai phạm pháp luật (vi phạm Nghị định 91/2015/NĐ-CP và Nghị định 44/NĐ-CP). Như vậy, từ góc độ pháp luật, trước hết có thể xác định đây là vi phạm hành chính. Tuy nhiên, để làm rõ chế tài thì lại không chỉ căn cứ vào điều nào của một vài nghị định nói trên đã bị vi phạm, mà phải căn cứ Luật Xử phạt vi phạm hành chính để xác định xem vi phạm đây có bị xử phạt hay không và xử phạt thế nào. Kết luận của Ủy ban Kiểm tra trong trường hợp này không nói đến vi phạm hình sự, nhưng điều đây không hẳn bị loại trừ bởi trong quá trình xử lý thứ hai, cơ quan tính năng vẫn có thể xác minh có thiệt hại đến tài sản của Nhà nước hay không. Nếu có, và ở mức độ từ 100 triệu đồng trở lên, thì căn cứ điều 179, Bộ luật Hình sự 2015, vi phạm hành chính sẽ trở thành tội “Thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước…”. Đáng lưu ý là trong vụ việc này, vi phạm về pháp luật dân sự đã không được đề cập, khi Ban Thường vụ Thành ủy chỉ đề nghị Công ty Tân Thuận đàm phán có đối tác để hủy hợp đồng. Có nghĩa rằng đây là biện pháp xử lý vấn đề theo qui định tự nguyện thuộc quyền tự do định đoạt của một vài bên mà không phải phán xử của cơ quan pháp luật.

Sai phạm về hành chính và hình sự có tác động đến quan hệ dân sự không?

Trên thực ở, sau khi vụ chuyển nhượng khu đất ở xã Phước Kiển bị Thành ủy TPHCM kết luận có sai phạm, Công ty Quốc Cường Gia Lai đã tự nguyện hủy bỏ hợp đồng để trả đất lại cho Công ty Tân Thuận và nhận lại tiền đã giao. Như vậy, thiệt hại vật chất cho Nhà nước có thể không xảy ra và việc xử lý hình sự cũng bởi thế, có thể không còn căn cứ để tiến hành.

Tuy nhiên, trong sự vụ này cũng như một vài trường hợp tương tự khác, giả thiết rằng không có thỏa thuận của một vài bên liên quan về việc hủy bỏ chuyển nhượng dân sự do 1 bên là tổ chức, cá nhân thuộc cơ quan nhà nước có vi phạm hành chính hoặc hình sự, thì cơ quan pháp luật có thể phán xử tuyên hoặc buộc hủy bỏ hợp đồng để thu hồi tài sản cho Nhà nước được không?

Nếu vụ việc dừng lại ở “vi phạm hành chính”, cơ quan có thẩm quyền chỉ có thể tiến hành Luật Xử phạt vi phạm hành chính để “tịch thu tang vật vi phạm hoặc phương tiện được sử dụng để vi phạm” hay đề nghị bên vi phạm (là tổ chức, cá nhân thuộc cơ quan nhà nước có liên quan) “bồi thường thiệt hại”. Điều đây dĩ nhiên không tác động hay liên quan gì đến tài sản của Nhà nước đã được chuyển nhượng. Câu hỏi là trong trường hợp của Công ty Tân Thuận nói trên, nếu phía Quốc Cường Gia Lai đã không tự nguyện hoàn trả thì doanh nghiệp Tân Thuận có quyền đề nghị tòa án tuyên hợp đồng vô hiệu để hủy bỏ chuyển nhượng, qua đây thu hồi khu đất đã phân phối được không?

Về lý thuyết là có thể nhưng trên thực ở sẽ rất phức tạp. Chẳng hạn, tòa án sẽ phải xác định hợp đồng hay chuyển nhượng đây của hai bên có vi phạm “điều cấm của pháp luật” hay không, mà điều cấm này phải được ghi rõ trong luật chứ không đơn thuần là chỉ là “vi phạm”. Có 1 khả năng khác mà pháp luật cho phép là tham khảo xem hợp đồng, mặc dù đã ký nhưng đã hội đủ một vài điều kiện để có hiệu lực hay chưa. Chẳng hạn, nếu bên chuyển nhượng không có thẩm quyền phân phối tài sản theo luật định mà vẫn phân phối, thì hợp đồng đây sẽ không có hiệu lực và tài sản chẳng thể được chuyển giao, hay nói 1 một vàih khác vẫn thuộc quyền có của bên phân phối. Rắc rối thực sự sẽ xảy ra khi căn cứ vào hợp đồng phân phối, việc chuyển giao quyền có, ít nhất về mặt hình thức và thủ tục, đã được cơ quan có thẩm quyền xác nhận qua thủ tục đăng ký, trước bạ. Bởi trong tình huống đây, sẽ cần có hai quy trình và thủ tục pháp lý khác nhau và độc lập để hủy bỏ cả bản hợp đồng đã thực hiện xong cũng như quyền có mới được xác lập.

Vụ việc sẽ được đẩy đi xa hơn nếu có vụ án hình sự được khởi tố. Khi đây, tòa án sẽ chọn lọc toàn bộ mà không cần có đề nghị nào của một vài bên liên quan. Tuy nhiên, về nguyên lý, liên quan đến khía cạnh dân sự, tòa án vẫn chỉ có thể tuyên vô hiệu hay hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng để “thu hồi tài sản nhà nước” nếu có căn cứ rằng chuyển nhượng giữa một vài bên đã “vi phạm điều cấm” hoặc chưa có hiệu lực. Một gặp khó pháp lý cho việc đạt mục tiêu này sẽ xảy ra khi trách nhiệm hình sự, ví dụ hình phạt tù, chỉ tiến hành cho một vài cá nhân phía cơ quan, tổ chức nhà nước có liên quan và cho một vài tội danh khác nhau, trong khi bên phân phối tài sản nhà nước trong chuyển nhượng lại là 1 tổ chức vốn có tính năng và thẩm quyền thực hiện chuyển nhượng này. Vấn đề thứ hai nữa cần được lưu ý là: cho dù bên phân phối không có thẩm quyền hoặc chuyển nhượng dân sự bị tuyên vô hiệu nhưng bên mua lại hoàn toàn không có lỗi. Trong tình huống đây, hậu quả pháp lý ép buộc không chỉ là “khôi phục lại trạng thái ban đầu” mà còn bao gồm cả quyền đòi bồi thường thiệt hại của bên mua.

Liệu bên thứ ba ngay tình có được bảo vệ ?

Trong một vài dự án đầu tư có nội dung phân phối hay chuyển nhượng tài sản nhà nước là đất đai, BDS, việc phát hiện sai phạm thường đến khá muộn sau khi tài sản mua đã được tiếp tục chuyển giao cho một vài bên thứ ba khác hoặc bị cầm cố, thế chấp có ngân hàng. Vấn đề pháp lý khi đây sẽ là: nếu chuyển nhượng và hợp đồng chuyển nhượng ban đầu bị kết luận vô hiệu thì có thể thu hồi tài sản đã chuyển nhượng tiếp hay bị cầm cố, thế chấp cho Nhà nước không?

Bởi việc bảo vệ “quyền của bên thứ ba ngay tình” đã được thừa nhận rộng khắp và từ lâu trong Bộ luật Dân sự. Điều 133, Bộ luật Dân sự 2015 đã tái khẳng định hai qui định căn bản như sau:

Thứ nhất, trường hợp chuyển nhượng dân sự vô hiệu nhưng đối tượng của chuyển nhượng là tài sản không phải đăng ký đã được chuyển giao cho bên thứ ba ngay tình thì chuyển nhượng được xác lập, thực hiện có bên thứ ba vẫn có hiệu lực.

Thứ hai, trường hợp chuyển nhượng dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký ở cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đây được chuyển giao bằng 1 chuyển nhượng dân sự khác cho bên thứ ba ngay tình và bên này căn cứ vào việc đăng ký đây mà xác lập, thực hiện chuyển nhượng thì chuyển nhượng đây không bị vô hiệu.

Bên thứ ba đã nhận chuyển nhượng một vài tài sản của Nhà nước được coi là “ngay tình” khi không biết và được xác định không liên quan đến một vài sai phạm đã được phát hiện trong dự án có liên quan. Điều lưu ý duy nhất là trong nhiều dự án, một vài bên mua tài sản của Nhà nước thường sử dụng ngay chính một vài tài sản đây làm vật thế chấp để vay vốn đầu tư. Vì quy định nói trên của Bộ luật Dân sự chỉ nói cụ thể đến việc bảo vệ quyền của bên thứ ba ngay tình trong trường hợp tài sản đã được “chuyển giao” mà không phải cầm cố hay thế chấp, bên cho vay rất có thể vẫn phải gánh chịu rủi ro do về việc tài sản thế chấp bị thu hồi khi chuyển nhượng chuyển nhượng được tuyên vô hiệu hay hủy bỏ.

Canhogemriversidehcm.com – Theo TBKTSG

Bạn đang xem chuyên mục Blog canhogemriversidehcm.com

0 replies

Leave a Reply

Want to join the discussion?
Feel free to contribute!

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *